Người theo dõi

Hiển thị các bài đăng có nhãn luan van. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luan van. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

Một vài điều lưu ý khi viết phần tóm tắt khóa luận

Một KL gồm có những phần sau đây: dẫn nhập (introduction), phương pháp (methods), kết quả (results), và thảo luận (discussion).  Cấu trúc này được gọi tắt là cấu trúc IMRAD.  Tuy nhiên, mỗi KL lúc nào cũng có phần tóm lược (abstract) để — như tên gọi — tóm tắt các khía cạnh chính của một công trình nghiên cứu.
Tóm lược (Abstract)
Có 2 loại tóm lược: không có tiêu đề và có tiêu đề.  Loại tóm lược không có tiêu đề là một đoạn văn duy nhất tóm tắt công trình nghiên cứu.  Loại tóm lược có tiêu đề — như tên gọi – là bao gồm nhiều đoạn văn theo các tiêu đề sau đây: Background, Aims, Methods, Outcome Measurements, Results,  Conclusions. Tuy nhiên, dù là có hay không có tiêu đề, thì một bản tóm lược phải chuyển tải cho được những thông tin quan trọng sau đây:
Câu hỏi và mục đích của nghiên cứu.  Phần này phải mô tả bằng 2 câu văn.  Câu văn thứ nhất mô tả vấn đề mà tác giả quan tâm là gì, và tình trạng tri thức hiện tại ra sao.  Câu văn thứ hai mô tả mục đích nghiên cứu một cách gọn nhưng phải rõ ràng.
Phương pháp nghiên cứu.  Cần phải mô tả công trình nghiên cứu được thiết kế theo mô hình gì, đối tượng tham gia nghiên cứu đến từ đâu và đặc điểm của đối tượng, phương pháp...  Phần này có thể viết trong vòng 4-5 câu văn.
Kết quả.  Trong phần này, tác giả trình bày những kết quả chính của nghiên cứu, kể cả những số liệu có thể lấy làm điểm thiết yếu của nghiên cứu.  Nên nhớ rằng kết quả này phải được trình bày sao cho trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra từ câu văn đầu tiên.
Kết luận.  Một hoặc 2 câu văn kết luận và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu.  Có thể nói phần lớn độc giả chú tâm vào câu văn này trước khi họ đọc các phần khác, cho nên tác giả cần phải chọn câu chữ sao cho “thuyết phục” và thu hút được sự chú ý của độc giả trong 2 câu văn quan trọng này.
Nếu tựa đề bài báo phát biểu về nội dung của công trình nghiên cứu, thì bảng tóm lược cho phép bạn mô tả chi tiết hơn nội dung của công trình nghiên cứu.  Độ dài của bảng tóm lược thường chỉ 200 đến 300 từ (tùy theo qui định).  Bảng tóm lược giúp người đọc nên đọc tiếp bài báo hay bỏ qua bài báo.  Do đó, tác giả cần phải cung cấp thông tin một cách ngắn gọn, nhưng có dữ liệu (chứ không phải chỉ hứa suông) và đi thẳng vào vấn đề (chứ không phải viết lòng vòng).  Tác giả phải chọn từ ngữ rất cẩn thận để phản ảnh một cô đọng những điều mình muốn chuyển tải đến cộng đồng khoa học.
Sau đây là một bản tóm lược tiêu biểu có tiêu đề (bài viết của NVT, 2010).  Bài báo này trình bày một công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa các thành phần cơ thể (mỡ, nạc, xương) ở một nhóm phụ nữ Việt Nam sau mãn kinh (LT Ho-Pham, et al. Contributions of lean mass and fat mass to bone mineral density: a study in postmenopausal women. BMC Musculoskeletal Disorders 2010, 11:59).  Bản tóm lược có 4 tiêu đề: dẫn nhập, phương pháp, kết quả và kết luận. Phần dẫn nhập chỉ tóm gọn trong 2 câu văn, với câu đầu nêu vấn đề vẫn còn trong vòng tranh cãi, và câu 2 phát biểu về giả thuyết và mục đích của nghiên cứu.  Phần phương pháp mô tả số phụ nữ tham gia, độ tuổi, nơi nghiên cứu, phương pháp đo lường, và phương pháp phân tích.  Phần kết quả đi thẳng vào kết quả chính với những con số cụ thể.  Đương nhiên, những con số này sẽ được lặp lại chi tiết hơn trong bài báo.  Phần kết luận chỉ một câu văn có tính cách trả lời câu hỏi nghiên cứu.

Background

The relative contribution of lean and fat to the determination of bone mineral density (BMD) in postmenopausal women is a contentious issue. The present study was undertaken to test the hypothesis that lean mass is a better determinant of BMD than fat mass.

Methods

This cross-sectional study involved 210 postmenopausal women of Vietnamese background, aged between 50 and 85 years, who were randomly sampled from various districts in Ho Chi Minh City (Vietnam). Whole body scans, femoral neck, and lumbar spine BMD were measured by DXA (QDR 4500, Hologic Inc., Waltham, MA). Lean mass (LM) and fat mass (FM) were derived from the whole body scan. Furthermore, lean mass index (LMi) and fat mass index (FMi) were calculated as ratio of LM or FM to body height in metre squared (m2).

Results

In multiple linear regression analysis, both LM and FM were independent and significant predictors of BMD at the spine and femoral neck. Age, lean mass and fat mass collectively explained 33% variance of lumbar spine and 38% variance of femoral neck BMD. Replacing LM and FM by LMi and LMi did not alter the result. In both analyses, the influence of LM or LMi was greater than FM and FMi. Simulation analysis suggested that a study with 1000 individuals has a 78% chance of finding the significant effects of both LM and FM, and a 22% chance of finding LM alone significant, and zero chance of finding the effect of fat mass alone.

Conclusions

These data suggest that both lean mass and fat mass are important determinants of BMD. For a given body size — measured either by lean mass or height — women with greater fat mass have greater BMD.
Bản tóm lược dưới đây là một abstract tiêu biểu không có tiêu đề (LT Ho-Pham, et al.  Similarity in percent body fat between white and Vietnamese women: implication for a universal definition of obesity.  Obesity 2010; 18:1242-6).  Toàn bộ bản tóm lược chỉ là một đoạn văn.  Nhưng nếu chú ý kĩ sẽ thấy những thông tin được trình bày trong abstract tuân thủ theo cấu trúc IMRAD.  Phần dẫn nhập gồm 2 câu văn: câu đầu tiên nêu vấn đề nghiên cứu; câu thứ hai phát biểu mục đích nghiên cứu.  Các câu kế tiếp mô tả phương pháp nghiên cứu, kết quả, và kết luận.
It has been widely assumed that for a given BMI, Asians have higher percent body fat (PBF) than whites, and that the BMI threshold for defining obesity in Asians should be lower than the threshold for whites. This study sought to test this assumption by comparing the PBF between US white and Vietnamese women. The study was designed as a comparative cross-sectional investigation. In the first study, 210 Vietnamese women ages between 50 and 85 were randomly selected from various districts in Ho Chi Minh City (Vietnam). In the second study, 419 women of the same age range were randomly selected from the Rancho Bernardo Study (San Diego, CA). In both studies, lean mass (LM) and fat mass (FM) were measured by dual-energy X-ray absorptiometry (DXA) (QDR 4500; Hologic). PBF was derived as FM over body weight. Compared with Vietnamese women, white women had much more FM (24.8 +/- 8.1 kg vs. 18.8 +/- 4.9 kg; P or=30, 19% of US white women and 5% of Vietnamese women were classified as obese. Approximately 54% of US white women and 53% of Vietnamese women had their PBF >35% (P = 0.80). Although white women had greater BMI, body weight, and FM than Vietnamese women, their PBF was virtually identical. Further research is required to derive a more appropriate BMI threshold for defining obesity for Asian women.

Một vài điều lưu ý khi đặt tựa đề cho công trình nghiên cứu

Mục tiêu số 1 của việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp là truyền đạt thông tin về một vấn đề khoa học đến các đồng nghiệp, và tường trình những phương pháp hay cách tiếp cận để giải quyết vấn đề. Một quyển báo cáo kết quả nghiên cứu đặt trên kệ trong thư viện là phương tiện để các nhà khoa học trẻ chuyển tải thông tin.  Báo cáo được viết theo một cấu trúc đặc thù mà sinh viên phải tuân theo. Do đó, để thành công trong khoa học, nhà khoa học phải nắm được kĩ năng viết báo cáo. 
Tựa đề bài báo
Tựa đề được viết trên trang đầu của một bài báo, ở vị trí trung tâm.  Chúng ta muốn tựa đề khóa luận (KL) phải “bắt mắt” người đọc (sinh viên các khóa sau), cho nên cần phải đầu tư một chút hời gian vào việc chọn chữ và chiến lược chọn tên cho KL.  Tựa đề không nên quá ngắn, nhưng cũng không nên quá dài, mà phải nói lên được nội dung chính của nghiên cứu.  Nếu tựa đề không nói lên được nội dung KL, độc giả sẽ không chú ý đến công trình nghiên cứu, và chúng ta mất người đọc.  Để có một tựa đề sáng tạo, tôi đề nghị các bạn nên tuân thủ hay ít ra là xem xét đến một số khía cạnh sau đây:
Không bao giờ sử dụng viết tắt.  Nên nhớ rằng nhiều người ngoài lĩnh vực chuyên môn đọc KL của bạn, và viết tắt có thể làm cho họ khó chịu vì họ không quen hay không biết đến những chữ viết tắt chuyên ngành.
Không nên đặt tựa đề theo kiểu nghịch lí hay tựa đề mơ hồ. Tựa đề nghịch ló và mơ hồ rất nguy hiểm, vì nó biểu hiện nghiên cứu của bạn chẳng giải quyết được vấn đề gì, hay chẳng có câu trả lời gì, và do đó người đọc có thể nghĩ sẽ rất phí thì giờ để đọc KL.
Không nên đặt tựa đề dài.  Tựa đề KL không nên dài hơn 20 từ.  Tựa đề dài có thể làm cho người đọc mất chú ý. 
Tựa đề KL nên có yếu tố mới.  Yếu tố mới lúc nào cũng có hiệu quả thu hút sự chú ý của người đọc.  Chẳng hạn như tựa đề “Nghiên cứu đặc điểm hình thái học của một họ ruồi mới Syrphidae (Diptera)” chắc được nhiều người chú ý hơn là tựa đề “Nghiên cứu đặc điểm hình thái học của một họ ruồi Syrphidae (Diptera)”
Không nên đặt tựa đề như là một phát biểu.  Những tựa đề này làm cho người đọc … bực mình.  Trong khoa học, không có một cái gì xác định và chắc chắn.  Chúng ta không thể nào chứng minh một giả thuyết, tức là nói đến chân lí. Đây là một cách viết thể hiện sự thiếu hiểu biết khoa học của tác giả.  Nhà khoa học là người đi tìm chân lí, chứ không phải đã tìm được chân lí.
Vì tựa đề KL được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu của thư viện, nên khi đặt tựa đề cần phải để ý đến những từ khóa (keywords). Phần lớn những cơ sở dữ liệu dùng tiêu đề và tựa đề làm thuật ngữ tìm kiếm.  Chẳng hạn như bài báo với tựa đề “Nghiên cứu đặc điểm hình thái học của một họ ruồi mới Syrphidae (Diptera)” sẽ được phân loại dưới thuật ngữ “hình thái học/morphology”, “ruồi/fly”, “Syrphidae”, và “Diptera”. Và cũng nên chú ý là việc phân từ khóa còn phụ thuộc vào kỹ năng nghiệp vụ của người nhập dữ liệu trong thư viện chứ không phải là theo theo ý bạn!
Tựa đề KL thường phải qua nhiều lần chỉnh sửa. Đến khi bảo vệ đề cương, có thể phải sửa lại một lần nữa theo đề nghị của hội đồng phản biện. Với kinh nghiệm bản thân, khi tiêu đề KL của bạn chứa tên khoa học của một loài thì tốt nhất phải chứa đủ 4 thành tố trong tên đó, bao gồm: tên chi, tên loài, tác giả đặt tên loài, năm đặt tên loài. Như thế là đầy đủ nhất. 

Quy định hình thức luận văn cuối khóa - Minh họa một số phần của luận án

Bìa 1



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC




KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

(TÊN ĐỀ TÀI)







                                                               NGÀNH                               : NÔNG HỌC
                                                               KHÓA                                  : 2007-2011
                                                               SINH VIÊN THỰC HIỆN   : TRẦN VĂN A





Tp. Hồ Chí Minh, tháng 01/2011

Bìa 2

(TÊN ĐỀ TÀI)

 



Tác giả
(TÊN TÁC GIẢ)


Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng kỹ sư ngành nông Nông học



GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. Trần Văn B
KS. Lê Thị C


 

 

 

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 03/2003

 

Trang mục lục

MỤC LỤC
Trang
Trang tựa ......................................................................................................................................... i
Cảm tạ .............................................................................................................................................. ii
Tóm tắt ............................................................................................................................................. iii
Mục lục ............................................................................................................................................ iv
Danh sách các bảng biểu .............................................................................................................. vi
Danh sách các sơ đồ hình ảnh ...................................................................................................... vii
Danh sách các chữ viết tắt ............................................................................................................ ix
Chương 1 Giới thiệu ..................................................................................................................... 1
1.1 Đặt vấn đề.................................................................................................................................. 1
1.2 Mục đích – Yêu cầu................................................................................................................. 2
1.3 Nội dung nghiên cứu................................................................................................................ 2
1.4 Giới hạn đề tài........................................................................................................................... 2
Chương 2 Tổng quan tài liệu....................................................................................................... 3
2.1......................................................................................................................................................
2.2......................................................................................................................................................
Chương 3 Vật liệu và Phương pháp nghiên cứu .....................................................................
3.1 Vật liệt thí nghiệm....................................................................................................................
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu..........................................................................................
3.2.1 Thời gian nghiên cứu............................................................................................................
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu.............................................................................................................
3.2.2.1 Đặc điểm khí hậu thời tiết khu vực thí nghiệm.............................................................
3.2.2.2 Đặc điểm đất đai địa hình khu vực thí nghiệm..............................................................
3.2.2.3 Đặc điểm nguồn nước tưới khu vực thí nghiệm.............................................................
………
Chương 4 Kết quả và thảo luận..................................................................................................
4.1
4.2
Chương 5 Kết luận và đề nghị.....................................................................................................
Tài liệu tham khảo..........................................................................................................................
Phụ lục..............................................................................................................................................
Mẫu                                       
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
QUÁCH NGỌC ÂN, 1992. Nhìn lại hai năm phát triển lúa lai. Di truyền học ứng dụng, 98 (1), tr. 10 – 16.
BỘ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, 1996. Báo cáo tổng kết 5 năm (1992 – 1996) phát triển lúa lai, Hà Nội.
NGUYỄN THỊ GẤM, 1996, Phát hiện và đánh giá một số dòng bất dục đực cảm ứng nhiệt độ. Luận văn thạc sỹ Khoa học nông nghiệp, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội (chưa xuất bản).
………
Tiếng Anh
CRITCHFIELD, J. H., 1983, General climatology, Prentice-hall INC., 453 pages.
HANSEN, J.W. and JONES, J.W., 2000, Scaling-up crop models for climate variability applications. Agricultural Systems, 65 (1), p. 43 – 72.
JOSHI, SURESH C. and PALNI, LOK MAN S., 1998. Clonal variation in temperature response of photosynthesis in tea. Plant Science 137 (2), p. 225 – 232.
……… 
MỘT SỐ CÁCH TRÍCH DẪN TRONG LUẬN VĂN
- Theo Nair (1987), kỹ thuật canh tác theo băng có thể giữ vai trò quan trọng…
- Kỹ thuật canh tác theo băng có thể giữ vai trò quan trọng… (Nair, 1987).
- Theo Lý Văn A (1996), kỹ thuật túi khí sinh học đã…
- Kỹ thuật túi khí sinh học đã… (Lý Văn A, 1996).
- Năm 1998, Mercado đã báo cáo rằng…
 MỘT SỐ QUY TẮC BỎ DẤU TRONG TIẾNG VIỆT
- Đối với các thanh (sắc, huyền, hỏi ngã, nặng): bỏ dấu thanh trên nguyên âm. Trường hợp có ít nhất hai nguyên âm đi liền nhau:
+ Trường hợp chỉ có hai nguyên âm: bỏ dấu thanh lên nguyên âm trước (ví dụ: tòa nhà, chứ không phải là toà nhà).
+ Trường hợp đi sau hai nguyên âm ít nhất là một phụ âm, hay đi sau nguyên âm là một nguyên âm nữa: bỏ dấu thanh trên nguyên âm thứ 2 (ví dụ: khoảng cách, trốn thoát, khắc khoải, ..).
+ Trường hợp ba nguyên âm đi liền nhau và sau đó thêm một số phụ âm: bỏ dấu thanh trên nguyên âm thứ 3 (ví dụ: truyền nhiệt, đen tuyền, …).
- Đối với các dấu: chấm(.), phẩy (.), hai chấm (:), chấm phẩy (;), dấu chấm thang (!), dấu chấm hỏi (?), dấu ba chấm (…): các dấu này đi theo ngay sau chữ cuối cùng của từ trước (không có ký tự trắng) rồi cách một ký tự trắng mới bắt đầu chữ mới.
- Đối với các dấu ngoặc đơn (), ngoặc kép “”, dấu nháy ‘’, dấu /: không có ký tự trắng giữa các dấu. Ví dụ: (nguồn: Nguyễn Văn A, 2001).

Quy định hình thức luận văn cuối khóa - Quy cách viết và trình bày các phần của luận văn

Tựa của luận văn

Tựa cần đầy đủ nội dung cụ thể và đặc trưng của báo cáo, tránh đưa ra một tựa quá chung chung (ví dụ: tựa "Lai tạo giống lúa kháng sâu bệnh" là quá rộng. Đây là công việc mà IRRI sau 35 năm nghiên cứu vẫn chưa có giải đáp). Cũng không nên đưa ra tựa quá dài. Tránh chữ viết tắt, kí hiệu, công thức hóa học hoặc hàm số.
Cấu trúc tựa luận văn nên đơn giản, nhưng cần chú ý đến trật tự các chữ trong câu. Không nên đưa ra những tựa dễ gây hiểu lầm. Ví dụ: nếu chỉ nghiên cứu về liều lượng phân bón cho cây bông vải trên vùng đất xám không tưới thì tựa "Nghiên cứu, thử nghiệm một số giải pháp cho việc trồng bông trên đất xấu" là không phù hợp. Tựa này có thể viết lại: "Xác định lượng phân bón thích hợp cho cây bông vải trên vùng đất xám không tưới miền Đông Nam Bộ".
Không nên tùy tiện viết tắt trong tựa đề luận văn. Tựa và tên tác giả được trình bày ở kiểu chữ in. Tựa nên sắp xếp theo dạng tháp ngược.

Tóm tắt

Đối với luận văn cuối khóa, tóm tắt không vượt quá 400 từ. Nội dung bao gồm:
- Tên tác giả, tên trường, thời gian báo cáo luận văn, tựa của luận văn, tên của giáo viên hướng dẫn chính.
- Nêu các mục tiêu chính và nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu (kiểu bố trí, lần lặp lại, các nghiệm thức).
- Tóm lược kết quả đạt được.
- Những kết luận chủ yếu.
Nội dung tóm tắt cần đủ thông tin, cần cô đọng, rõ để người đọc có thể nắm được những thông tin chính của luận văn; phần tóm tắt không chứa bảng biểu, đồ thị hay hình ảnh, cũng không ghi lời cảm ơn, giới hạn nghiên cứu, các trích dẫn, các thảo luận và đề nghị.

Mục lục, danh sách các bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, hình ảnh

Mục lục, danh sách các bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, hình ảnh cần rõ ràng, đầy đủ, có ghi số trang bắt đầu của các tiểu mục hay trang có chứa các bảng biểu, đồ thị hay hình ảnh đó.
Danh sách các chữ viết tắt, ý nghĩa các đơn vị, … dùng trong luận văn cũng được liệt kê chi tiết, đầy đủ.

Giới thiệu

Có nhiều cách viết và bố cục chương Giới thiệu, tuy nhiên cần đảm bảo các nội dung:
- Tính cấp thiết của đề tài
- Cơ sở tiến hành và ý nghĩa của nghiên cứu.
            - Mục tiêu, yêu cầu của nghiên cứu.
            - Nội dung, giới hạn nghiên cứu (nếu có).

Tổng quan tài liệu

Tổng quan tài liệu có thể bao gồm: các nội dung liên quan đến nghiên cứu; các nội dung giúp giải thích rõ hơn các vấn đề liên quan đến nghiên cứu (các khái niệm, lý thuyết...); hoặc các nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề đang nghiên cứu, hoặc có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu. Những thông tin cơ bản về các phần mềm thống kê sẽ được dùng để xử lý số liệu cũng có thể được trình bày ngắn gọn ở đây. Các quy trình (phân tích, canh tác...) không nên trình bày ở phần này.
Các trích dẫn trong phần tổng quan tài liệu cần có nguồn gốc rõ ràng và chính xác. Các trích dẫn phải có đủ tên tác giả, năm xuất bản (thí dụ: Smith (1989) hoặc Jones và Johnson (1987); đối với các trường hợp có từ 3 tác giả trở lên thì chỉ ghi người đầu: Smith và ctv. (1990). Lưu ý, trong luận văn, không dùng ký hiệu ‘&’ thay cho từ ‘và’.
Trong trường hợp báo cáo của nhiều tác giả, hay nhiều báo cáo của cùng một tác giả trong nhiều thời điểm khác nhau thì phải liệt kê đầy đủ các tác giả hoặc năm theo thứ tự thời gian giảm dần và phân biệt nhau bằng dấu chấm phẩy. Ví dụ: Có nhiều mô hình thủy canh… (Mahbub và ctv, 1975; Kraazt, 1974). Có nhiều mô hình thủy canh… (Mahbub và ctv, 1975; 1974).
Nếu trích dẫn lại từ một trích dẫn khác mà không tìm được tài liệu gốc thì phải ghi rõ. Tuy nhiên nên hạn chế cách trích dẫn này. Ví dụ: Wilson (1992) cho rằng… (trích dẫn bởi Trần Thanh A, 1996).
Cần có kết luận sơ bộ ở cuối chương này nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa nghiên cứu hiện nay của tác giả.

Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

- Cần ghi rõ thời gian, địa điểm thực hiện nghiên cứu.
- Xác định đối tượng nghiên cứu; vật liệu thí nghiệm, điều kiện thí nghiệm.
- Trình bày rõ kiểu thí nghiệm, cách bố trí thí nghiệm, quy cách khu thí nghiệm. Trường hợp cần thiết phải trình bày sơ đồ bố trí thí nghiệm thì cần thể hiện rõ phương hướng của khu thí nghiện và các hướng biến thiên chính trong sơ đồ. Đối với các kiểu thí nghiệm phổ biến (như kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên) thì không cần trình bày sơ đồ bố trí thí nghiệm ở đây mà nên trình bày ở phần tham khảo.
- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: chỉ ghi những chỉ tiêu cần thiết cho phần kết quả thảo luận. Cần xác định thật chi tiết và rõ ràng phương pháp theo dõi từng chỉ tiêu.
Trong trường hợp nghiên cứu sử dụng phương pháp (nghiên cứu hoặc theo dõi chỉ tiêu) mới, hoặc ít phổ biến, hoặc do tác giả tự xây dựng thì cần mô tả chi tiết phương pháp ở phần phụ lục.

 Kết quả thảo luận

            - Phần kết quả: trình bày các kết quả đã đạt được trong nghiên cứu.
            - Phần thảo luận: có thể là giải thích kết quả, phân tích kết quả, so sánh kết quả nghiên cứu với các kết quả khác.
a. Nguyên tắc sử dụng các bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, hình ảnh để trình bày số liệu
- Bảng biểu: dùng để trình bày số liệu theo hàng, cột; dùng để chỉ tần suất xuất hiện, tỷ lệ phần trăm.
- Đồ thị, biểu đồ, sơ đồ, hình ảnh: dùng để trình bày số liệu trong các mối tương quan khác.
- Bảng biểu, đồ thị, biểu đồ, hình ảnh minh họa phải mang thông tin tương đối độc lập, vẫn có thể được hiểu đầy đủ và chính xác nếu tách ra khỏi luận văn. Nếu không có lý do xác đáng, không nên sử dụng đồng thời bảng số liệu và đồ thị/biểu đồ cho cùng một kết quả.
Bảng biểu, đồ thị, sơ đồ và hình ảnh phải được trình bày ngay sau khi nội dung có liên quan đến nó được đề cập lần đầu tiên (trừ trường hợp chỗ không đủ phải sang trang kế); không nên trình bày bảng biểu và đồ thị ở cuối trang in; nên trình bày bảng trong một trang, ngoại trừ trường hợp bảng quá dài. Cần lưu ý, nội dung của bảng biểu, đồi thị, hình ảnh minh họa phải bổ sung cho nhau và không được trùng với nhau và trùng với phần viết.
Tương tự, bảng biểu phải được đi theo ngay sau tên bảng biểu, không để tên bảng biểu ở cuối trang, cón bảng biểu thì ở trang khác.
Tên bảng biểu được trình bày phía trên bảng, còn tên đồ thị, sơ đồ, hình ảnh được ghi phía dưới đồ thị, sơ đồ, hình ảnh. Đánh số bảng biểu và đồ thị/biểu đồ theo từng chương (thí dụ: bảng 4.2 có nghĩa là bảng số 2 trong chương 4). Về cách trình bày, chữ “Bảng 4.2” được tô đậm (bold), phần tên bảng được trình bày ở chế độ bình thường sau dấu hai chấm (:) (quy cách này cũng được áp dụng cho tên đồ thị, biểu đồ, hình ảnh). Phần tên (bảng biểu, đồ thị...) phải đảm bảo nội dung của bảng biểu, đồ thị... cùng với các cần thiết khác (như đơn vị chẳng hạn). Nều cần giải thích nhiều nội dung thì nên sử dụng thêm ghi chú ngay sau bảng biểu, đồ thị...
Về cỡ chữ, tốt nhất vẫn dùng một cỡ chữ chung cho toàn luận văn. Trong trường hợp bảng lớn quá, có thể thay đổi (giảm) cỡ chữ trong bảng nhỏ lại, nhưng cũng không được nhỏ hơn 10.
Không đóng khung bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, hình ảnh. Riêng trong bảng biểu, chỉ kẻ đường ngang, không kẻ các đường đứng; không có cột số thứ tự (STT), ngoại trừ những trường hợp ngoại lệ. Có thể sử dụng các dòng trắng để phân biệt các cụm biến riêng biệt.
Đồ thị, biểu đồ phải đơn giản, rõ ràng; không nên có quá nhiều đường, chỉ nên trình bày tối đa bốn (4) đường biểu diễn trên 1 biểu đồ/đồ thị. Các đường biểu diễn phải phân biệt nhau. Không nên sử dụng các kiểu đồ thị khối ba chiều khi không cần thiết.
Các bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, hình ảnh lấy từ các nguồn khác phải được trích dẫn đầy đủ ở gốc phải (cạnh lề phải) ngay sau bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, hình ảnh. Ví dụ (nguồn: Trạm Khí tượng Tân Sơn Nhất, 2002). Nguồn được trích dẫn này phải được liệt kê đầy đủ, chính xác trong danh mục tài liệu tham khảo.
Nên dùng bảng hẹp và dài (dễ phù hợp hơn bảng rộng và ngang).
Đối với các bảng biểu, đồ thị, sơ đồ có kích thước lớn hơn chiều ngang của khổ giấy A4 (rộng hơn 210 mm) thì gấp giấy như minh họa ở hình 4.1 sao cho tên của bảng biểu, đồ thị được nhìn thấy ngay mà không cần mở rộng tờ giấy; ngoài ra cũng cần lưu ý không đóng gáy hay xén mất các mép gấp của giấy. Nên hạn chế sử dụng các bảng quá lớn.
Trong mọi trường hợp, lề bao quanh văn bản và bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, … phải thống nhất như quy định trong phần II của hướng dẫn này.
Đối với những trang có chiều dài lớn hơn 297 mm (như bản đồ, bản vẽ…) thì có thể để trong một phong bì cứng đính kèm trong bìa sau của luận văn.
Hình vẽ, sơ đồ trong luận văn phải sạch sẽ, dễ hiểu. Hình chụp phải rõ, nét, phản ánh được nội dung cần minh họa.
Khi đề cập đến bảng biểu, đồ thị, hình ảnh, … thì phải nêu rõ số của nó. Ví dụ: “… được trành bày trong bảng 4.2” hoặc “(xem sơ đồ 4.2)”; không viết … “được nêu trong bảng dưới đây”.
Các phương trình toán học có thể được trình bày trên một hàng hay nhiều hàng tùy ý, nhưng phải thống nhất trong toàn luận văn. Hiện nay xu hướng chung là viết trên một hàng. Lưu ý cần giải thích rõ các ký hiệu và đơn vị của các đại lượng trong phương trình. Nếu có nhiều phương trình thì cũng phải đánh số và có danh sách các phương trình ở phần đầu luận văn.

b.Viết tắt, viết số

Không lạm dụng viết tắt trong luận văn. Chỉ nên viết tắt những từ, cụm từ phổ biến hoặc được lập lại nhiều lần trong luận văn.
Nếu cần viết tắt tên của các thuật ngữ, cơ quan, tổ chức, … thì được viết tắt nếu sau lần viết đầy đủ đầu tiên có kèm theo chữ viết tắt trong ngoặc đơn. Nếu trong luận văn có nhiều chữ viết tắt thì cần có danh sách các chữ viết tắt (theo thứ tự ABC).
Không lạm dụng việc viết số trong luận văn; không viết số ngay từ đầu dòng. Khi trình bày các số liệu phải kèm theo đơn vị.

c. Cách trích dẫn tài liệu tham khảo

Mọi ý kiến, khái niệm có ý nghĩa, mang tích chất gợi ý không phải của riêng tác giả và mọi tham khảo khác phải được trích dẫn và chỉ rõ nguồn trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn. Không trích dẫn những kiến thức phổ biến mà mọi người đều biết.
Cần lưu ý, không làm mất tập trung của người đọc, hoặc làm luận văn trở nên nặng nề, vụn vặt với những trích dẫn tham khảo không cần thiết.
Các trích dẫn phải được trích từ tài liệu gốc. Trong trường hợp không tiếp cận được với tài liệu gốc, mà chỉ trích dẫn thông qua một tài liệu khác thì phải nêu rõ cách trích dẫn này, đồng thời không nêu tên tài liệu gốc trong phần tài liệu tham khảo.
Có hai cách trích dẫn: trích dẫn trực tiếp (nguyên văn) hay trích dẫn ý chính. Khi cần trích dẫn nguyên văn một đoạn ngắn hơn hai câu hay bốn dòng đánh máy thì có thể sử dụng dầu ngoặc kép (“…”) để mở đầu và kết thúc trích dẫn. Nếu phần trích dẫn dài hơn thì nên tách ra thành một đoạn riêng với lề trái lùi vào thêm 2 cm và khi đó, không cần dùng dấu ngoặc kép để bắt đầu và kết thúc trích dẫn.
Khi trích dẫn ý chính thì không cần sử dụng ngoặc kép.
Có hai cách ghi nguồn gốc của trích dẫn: ghi trực tiếp tên tác giả hay đánh số theo thứ tự trong danh mục tài liệu tham khảo. Có thể chọn một trong hai cách tùy ý, nhưng phải thống nhất trong toàn luận văn.

Kết luận - đề nghị

Kết luận phải khẳng định những kết quả đã được, những đóng góp mới. Kết luận cần ngắn gọn, không có lời bình, giải thích. Chỉ kết luận những vấn đề mà tác giả đã thực hiện và được thể hiện rõ trong luận văn.
Phần đề nghị phải xuất phát từ nội dung nghiên cứu; đề nghị phải cụ thể, rõ ràng, thiết thực và có tính khả thi.

Tài liệu tham khảo

Danh mục tài liệu tham khảo phải bao gồm tất cả các công trình có liên quan đã được trích dẫn trong luận văn. Các chi tiết về tài liệu tham khảo phải đầy đủ, rõ ràng và chính xác để độc giả, nếu có quan tâm, có thể tìm được tài liệu gốc.
Trình bày tài liệu tiếng Việt và ngoại văn riêng (theo từng ngôn ngữ riêng), liệt kê danh mục các tài liệu tiếng Việt trước. Nếu tài liệu đã được dịch ra tiếng Việt, thì được liệt kê trong phần tiếng Việt; còn dù tác giả là người Việt Nam, nhưng tài liệu được xuất bản bằng tiếng nước ngoài thì phải liệt kê tài liệu ở phần tiếng nước ngoài. Phải giữ nguyên văn các tài liệu nước ngoài, không được phiên âm, dịch. Không nên đánh số thứ tự tài liệu tham khảo, trừ trường hợp nêu nguồn bằng cách đánh số.
Tài liệu tham khảo nên xếp theo vần ABC của tên tác giả.
+ Tác giả là người nước ngoài: xếp thứ tự ABC theo họ.
+ Tác giả là người Việt Nam: xếp thứ tự ABC theo tên, nhưng vẫn giữ nguyên thứ tự họ tên thông thường của ngưới Việt Nam, không đảo tên lên trước họ.
+ Trường hợp tài liệu không có tên tác giả cụ thể thì xếp theo thứ tự ABC của từ đầu của tên cơ quan ban hành bài báo hay ấn phẩm. Ví dụ: Tổng cục thống kê được xếp vào vần T.
+ Các thông tin lấy từ internet, từ các mạng thông tin chuyên ngành, không rõ tác giả thì ghi rõ địa chỉ của website (trường hợp biết tên tác giả thì phân loại theo tên tác giả như hướng dẫn).
- Nếu tài liệu tham khảo là bài báo đăng trên tạp chí khoa học thì phải ghi đủ theo mẫu: TÊN TÁC GIẢ (năm xuất bản/công bố), “tên bài báo”, “tên tạp chí/sách”, tập (số volume), số trang có bài báo. 
- Nếu tài liệu tham khảo là sách thì cần ghi rõ theo mẫu: TÊN TÁC GIẢ (năm xuất bản), “tên sách”, nhà xuất bản, nơi xuất bản. Tổng số trang của cuốn sách, trang sách được trích dẫn.
- Nếu tài liệu tham khảo chỉ là một chương trong quyển sách thì cần ghi rõ tên tác giả, tên chương, tên sách, tên tác giả hiệu đính, nhà xuất bản.
- Nếu tài liệu tham khảo là Tập san báo cáo hội nghị khoa học thì cần ghi rõ số trang, tên tác giả hiệu đính, tựa, ngày và địa điểm, tên hội nghị.
- Nếu tài liệu tham khảo là Luận văn cuối khóa, luận án thì phải mở ngoặc ghi: chưa xuất bản.
Nếu các thông tin về một tài liệu tham khảo dài hơn một dòng thì từ dòng thứ hai trở đi, lề trái được tăng thêm khoảng 1 cm.

Phụ lục

Phần phụ lục bao gồm những nội dung cần thiết để minh họa rõ hơn cho phần chính của luận văn, nhất là phần kết quả thảo luận; có thể bao gồm: các kết quả chi tiết của phân tích thồng kê số liệu, các sơ đồ, quy trình có sử dụng trong nghiên cứu, hoặc một số các hình ảnh, biểu mẫu phiếu điều tra.

Quy định hình thức luận văn cuối khóa - Nội dung chi tiết của một luận văn cuối khóa

Một báo cáo (luận văn, báo cáo khoa học, báo cáo nghiên cứu… ) thông thường gồm 3 phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung chính và phần tham khảo. Đối với luận văn cuối khóa hay báo cáo dự án, mỗi phần chính này gồm nhiều tiểu mục nhỏ hơn. Thứ tự và nội dung của một luận văn cuối khóa sẽ bao gồm các phần như sau:

Bố cục phần mở đầu của luận văn

Phần mở đầu được đánh số trang theo số La Mã (i, ii, iii), thông thường gồm các phần:
- Trang bìa 2;
- Cảm tạ (nên ngắn gọn trong 1 trang);
- Tóm tắt (không nên dài quá 2 trang);
- Mục lục;
- Danh sách các bảng, danh sách các hình, danh sách các bảng ở phần phụ lục và danh sách các chữ viết tắt, kí hiệu (nếu có).

Bố cục phần chính của luận văn

- Chương 1: Giới thiệu
- Chương 2: Tổng quan tài liệu
- Chương 3: Phương tiện và phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả và thảo luận
- Chương 5: Kết luận và đề nghị
Chữ “Chương …” được viết ở kiểu chữ thường, cỡ 18. Tựa đề của chương in đậm, kiểu chử in, cỡ chữ 18.

Phần khác

- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

Quy định hình thức luận văn cuối khóa - Quy định chung về hình thức luận văn cuối khóa

Kiểu chữ được sử dụng trong soạn thảo luận văn là Times New Roman, cỡ 13, font Unicode; mật độ chữ bình thường, không được sử dụng chế độ nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ (trừ một vài trường hợp ngoại lệ). Microsoft Word hay các chương trình tương tương được sử dụng để soạn thảo luận văn.
Ảnh: Cách thiết lập trang
Thiết kế trang: lề trái 3,0 cm, lề phải 2,0 cm, lề trên 3,0 cm, lề dưới 2,0 cm (hình 1); trừ trang tựa (trang bắt đầu) của các chương có lề trên là 5,0 cm.
Số thứ tự của trang được chèn vào bên phải của lề trên (top of page). Không nên ghi chữ “trang” cạnh số; cũng không nên tạo các dòng chữ ở trên và dưới trang giấy (phần Header/Footer). Phần trước chương 1, số thứ tự của các trang được đánh bằng số La Mã, kiếu chử nhỏ (i, ii, iii); bắt đầu từ chương 1 đến cuối luận văn (kể cả phần tài liệu tham khảo và phụ lục), số trang được đánh liên tục bằng chữ số Latin.
Hàng: khoảng cách hàng cách hàng gợi ý là 1.5. Đoạn sau cách đoạn trước 12 pt, trừ trường hợp liệt kê các thành phần (mỗi ý chỉ một dòng) thì có thể không cách hay cách 6 pt (hình 2).
Bìa: kích thước chữ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP gợi ý là 24, chữ dạng in hoa, in đậm (chế độ bold); đối với tên đề tài, tuỳ theo độ dài mà kích thước chữ có thể từ 14 đến 18.
Đơn vị, chữ viết tắt chuẩn, số: hệ thống đơn vị quốc tế (SI) phải được dùng trong toàn bài viết. Không sử dụng các đơn vị đo lường dân gian, không thể so sánh được (như một nhúm, to bằng ngón chân cái). Trường hợp phải sử dụng những đơn vị đo lường khác, phải có kèm theo quy đổi theo hệ thống đơn vị quốc tế.
Các ký hiệu viết tắt do tác giả tự đặt ra phải không được trùng lắp với các ký hiệu của đơn vị SI.
Số liệu trong luận văn phải được trình bày đúng theo từ vựng tiếng Việt: dùng dấu phẩy (,) để chỉ số thập phân; dấu chấm (.) để tách hàng trăm với hàng ngàn, hàng triệu, hàng tỷ.
Ảnh: Cách thiết lập đoạn văn
Các số liệu có đơn vị đi kèm, thì đơn vị được viết cách số liệu một ký tự trống (ví dụ: 5,2 kg). Trong toàn luận văn, cần thống nhất số lượng số thập phân sau dấu phẩy cho từng chỉ tiêu (tùy vào độ chính xác có ý nghĩa), tránh trình bày một cách tùy tiện.
Các tiểu mục của luận văn được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số, phân cách với nhau bằng dấu chấm (.), sau dấu chấm không để ký tự trắng; không sử dụng dấu chấm sau số cuối cùng; độ dài tối đa là bốn chữ số, với số đầu tiên dùng để chỉ số thứ tự của chương. Chỉ phân tiểu mục khi có ít nhất hai tiểu mục, nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1.1 mà không có tiểu mục 2.1.2. Ví dụ: 4.1.2.1 có nghĩa là tiểu mục 1 trong nhóm tiểu mục 2, thuộc mục 1 của chương 4.
Mỗi tiểu mục có ít nhất một đoạn văn, đoạn văn nên ở trọn trong một trang; trường hợp một đoạn văn ở hai trang thì ở mỗi trang phải có ít nhất hai dòng.
Không nên để tên tiểu mục ở cuối trang; tốt nhất là có ít nhất hai dòng theo sau tên tiểu mục trước khi sang trang khác.
Trong bài viết không được tùy tiện tô đậm, in nghiêng các chữ hoặc đoạn; không kể một số ngoại lệ, chỉ có các mục và tiểu mục mới được tô đậm và tên khoa học hoặc ký hiệu thống kê mới được in nghiêng theo quy định.
Cần lưu ý, tên khoa học (tên Latin) phải được in nghiêng trong ngoặc đơn (Zea mays) hoặc gạch dưới riêng từng chữ (Zea mays).
Luận văn được in trên một mặt giấy trắng khổ A4 (210 x 297 mm).
Gáy luận văn không nên dùng khoen.